Tổng số người truy cập

Cở chữ: 07:06 AM,22/03/2019
Một vài góp ý vào Luật kiểm toán nhà nước (sửa đổi)

 

Qua 04 năm triển khai Luật Kiểm toán nhà nước (KTNN) năm 2015, đến nay Luật Kiểm toán nhà nước đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 cũng như đồng bộ với các luật có liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Kế toán...Sau đây là một vài ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện dự thảo Luật trình Kỳ họp thứ 8 của Quốc hội.
Thứ nhất, Luật KTNN 2015 chưa quy định đầy đủ về vị trí pháp lý của Kiểm toán nhà nước, theo đó chưa quy định toàn diện nhiệm vụ kiểm toán đối với hoạt động lập dự toán, chấp hành, quyết toán ngân sách theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cụ thể hóa địa vị pháp lý, nhiệm vụ và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước, là cơ quan giúp Quốc hội thực hiện quyền lực tài chính của mình bằng việc cung cấp sự xác nhận về tính đúng đắn, hợp pháp, hợp lý của các thông tin tài chính, hoạt động tài chính trong lĩnh vực tài chính công.
Thứ hai, về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán (Điều 7), theo quy định của  Luật KTNN hiện hành thì giá trị pháp lý mang tính bắt buộc của báo cáo kiểm toán chỉ đối với đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, dự thảo Luật quy định báo cáo kiểm toán là căn cứ đế khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhưng bản chất báo cáo kiểm toán không phải là một quyết định hành chính. Mặt khác, dự thảo Luật cũng chưa quy định cụ thể báo cáo kiểm toán có được sử dụng trong hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát hay không. Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung nội dung này.
Mặt khác, báo cáo kiểm toán Nhà nước là một trong những cơ sở, căn cứ để Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra, thanh tra sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và đưa ra các Quyết định của mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn một số kiến nghị của cơ quan Kiểm toán trong Báo cáo kiểm toán chưa phân tách được nội dung kiến nghị là phát hiện truy thu, thu nộp bổ sung về mặt tài chính, tách bạch với kiến nghị chỉ mang tính chất khuyến nghị, không làm phát sinh thêm nghĩa vụ về tài chính, dẫn đến tình trạng số kiến nghị xử lý tài chính của cơ quan kiểm toán chưa phản ánh đúng bản chất số phát sinh thêm nghĩa vụ về tài chính đơn vị phải thực hiện. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể về nội dung kiến nghị truy thu và nội dung khuyến nghị của báo cáo kiểm toán từ đó đảm bảo tính chính xác, phù hợp của các kiến nghị về xử lý tài chính trong báo cáo kiểm toán.
Thứ ba, về trách nhiệm của Tổng Kiểm toán nhà nước (Điều 13), đề nghị Ban soạn thảo xem xét bỏ quy định việc Tổng kiểm toán “trả lời chất vấn trước đại biểu Quốc hội” vì: Bản chất của hoạt động của kiểm toán là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước, không thuần túy là cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá xác nhận tình trạng tài chính nhà nước và do chính Quốc hội thành lập để giúp Quốc hội, HĐND kiểm tra, giám sát quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; Hoạt động của kiểm toán là hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên cơ chế “trả lời chất vấn trước đại biểu Quốc hội” là không cần thiết; và để tránh trùng lắp với quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội.
Thứ tư, về thời hạn kiểm toán (Điều 34) Luật KTNN 2015. Thực tiễn cho thấy quy mô, nội dung của các cuộc kiểm toán là khác nhau, có cuộc kiểm toán quy mô nhỏ chỉ cần số lượng ít kiểm toán viên làm việc trong thời gian ngắn, nhưng có những cuộc kiểm toán quy mô lớn, nội dung phức tạp cần nhiều kiểm toán viên và phải thực hiện trong thời gian dài. Do vậy, việc quy định cứng thời hạn tối đa cho một cuộc kiểm toán nói chung (áp dụng cho cả kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động) là không phù hợp và khó khả thi. Trên thực tế, việc quyết định thời hạn kiểm toán tại kiểm toán nhà nước thực hiện rất chặt chẽ (thông qua việc thẩm định của các đơn vị tham mưu) trước khi trình Tổng kiểm toán nhà nước ký ban hành, vì vậy các cuộc kiểm toán không thể tùy tiện trong việc quy định thời hạn tối đa thực hiện một cuộc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Để phù hợp với thực tiễn kiểm toán, tránh khó khăn khi tiến hành các cuộc kiểm toán, đề nghị bổ sung và viết lại như sau: ‘'Đối với cuộc kiểm toán hoạt động, cuộc kiểm toán chuyên đề, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định cụ thể về thời hạn kiểm toán”.
Thứ năm, về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán (Điều 69). Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại về hoạt động kiểm toán thực chất là một dạng giải quyết khiếu nại, nhưng do tính chất đặc thù trong hoạt động kiểm toán nhà nước nên cần quy định có sự khác biệt so với các quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Vì trình tự trên được áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và việc giải quyết cuối cùng được thực hiện theo trình tự tố tụng hành chính, trong khi đó Kiểm toán nhà nước không phải là cơ quan hành chính nhà nước.
Mặt khác, báo cáo kiểm toán nhà nước không phải là quyết định hành chính, hành vi của thành viên Đoàn kiểm toán nhà nước không phải là hành vi hành chính nên quy trình, thủ tục, thẩm quyền giải quyết cũng cần có đặc thù nhất định. Mặt khác, tại Điều 3 Luật Khiếu nại quy định “Trường hợp luật khác có quy định khác về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thì áp dụng theo quy định của luật đó”. Do vậy, đề nghị Dự thảo quy định theo trình tự riêng, không theo quy định của Luật Khiếu nại.
Thứ sáu, về kiểm toán đối với các đơn vị nhà nước không nắm giữ 50% vốn điều lệ. Qua kết quả kiểm toán đối với các đơn vị nhà nước không nắm giữ 50% vốn điều lệ trở lên cũng rất lớn, có gíá trị cao, tuy nhiên theo quy định của luật hiện hành, đối tượng Kiểm toán thuộc lĩnh vực doanh nghiệp nếu không có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ … thì chỉ gói gọn trong phạm vi các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ theo quy định Luật Doanh nghiệp 2005), trong khi thực tế không ít doanh nghiệp thuộc đối tượng không phải doanh nghiệp nhà nước nhưng có giá trị tuyệt đối đầu tư vốn nhà nước rất lớn và có đơn vị nhà nước không nắm giữ vốn, nhưng thực hiện dịch vụ có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước. Thực trạng này cho thấy việc kiểm soát quá trình sử dụng vốn, tài sản nhà nước chưa chặt chẽ và không đầy đủ, thiếu bao quát và rộng khắp.
Do đó, ngoài đề xuất thêm nhiệm vụ Kiểm toán thuế, Kiểm toán nợ công tại Điều 5 Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành, cần phải xác lập nguyên tắc: ở đâu có quản lý, sử dụng vốn của nhà nước, ở đó cần có sự kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, vốn của nhà nước. Công tác kiểm tra, giám sát phải do cơ quan Kiểm toán nhà nước thực hiện và chịu trách nhiệm về việc lựa chọn các đơn vị Kiểm toán thuộc lĩnh vực doanh nghiệp. Mặt khác, nếu trong trường hợp phải quy định quy mô vốn đầu tư của nhà nước để khoanh vùng phạm vi Kiểm toán, Luật nên quy định cả mức tỷ lệ tương đối (ví dụ như khoảng từ 30%vốn trở lên) và/hoặc quy định cả số tuyệt đối vốn đầu tư của nhà nước vào các Doanh nghiệp (ví dụ 100 tỷ đồng trở lên) nhằm tăng cường hiệu quả kiểm tra, giám sát của nhà nước thông qua hoạt động Kiểm toán nhà nước.
Thứ bảy, về đối tượng kiểm toán. Theo Hiến pháp 2013 (khoản 1, Điều 118) và Luật KTNN 2015 (Điều 4), đối tượng kiểm toán của KTNN là “việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán”. Căn cứ Điều 55 Hiến pháp 2013, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,... do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tại khoản 14 Điều 14 của Luật NSNN năm 2015 quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước… mà NSNN thuộc tài chính công (đã quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật KTNN năm 2015). Do vậy, việc kiểm toán đất đai, tài nguyên khoáng sản,... kiểm toán nhiệm vụ thu của cơ quan thuế (bao gồm nghĩa vụ của người nộp thuế) là nhiệm vụ của KTNN nhằm quy định cụ thể hơn, bảo đảm tính bao quát và phù hợp với đối tượng KTNN đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và các luật có liên quan. 
Thứ tám, đề nghị Luật KTNN 2015 sửa đổi bổ sung căn cứ ban hành quyết định kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán bảo đảm phù hợp với Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018. Theo Luật KTNN, có 3 căn cứ để Tổng KTNN ban hành quyết định kiểm toán, đó là: Kế hoạch kiểm toán hàng năm của KTNN; Yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Đề nghị của cơ quan, tổ chức được Tổng KTNN chấp nhận. Điều này đồng nghĩa căn cứ ban hành quyết định kiểm toán nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng chưa được đưa vào Luật KTNN. Trong khi đó, nội dung này lại được nêu lên tại Luật phòng chống tham nhũng năm 2018. Bởi vậy, để đảm bảo đồng bộ, thống nhất, nội dung này cần bổ sung vào Luật KTNN. Đồng thời đề xuất cần có chế tài với các hành vi không cung cấp thông tin, cản trở việc kiểm toán…
Thứ chín, Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Trách nhiệm này bao gồm giải trình khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động bởi quyết định, hành vi đó, giải trình khi báo chí đăng tải thông tin về vi phạm pháp luật,... Trong khi đó, hiện Luật KTNN mới chỉ quy định trách nhiệm của KTNN là “giải trình về kết quả kiểm toán với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội”. Do đó, cần xem xét việc sửa đổi, bổ sung quy định trên để bảo đảm tính đồng bộ.

                                                                     Phước Bình – Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh

Tin liên quan

12345...