Giới thiệu chung

Tên đơn vị: SỞ Y TẾ TỈNH TRÀ VINH.
Năm thành lập: 1992.
Trụ sở tại: 16A, Nguyễn Thái Học, phường 1, thị xã Trà Vinh.
Điện thoại : 074.3862399
Fax : 074.3864225
Email : soyte@travinh.gov.vn
Tổ chức bộ máy hiện có: 32 người
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Cơ sở vật chất: Tương đối đủ để hoạt động.
Chức năng, nhiệm vụ: Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước về lĩnh vực y tế và tổ chức thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

NGÀNH Y TẾ TỈNH TRÀ VINH

 

    Được tái lập từ khi tách ra từ tỉnh Cửu Long vào tháng 5/1992. Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm giữa hạ lưu sông Tiền và sông Hậu, là một trong những tỉnh có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và xã hội vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung; Địa bàn Trà Vinh là vùng sản xuất lương thực (đặc biệt là cây lúa nước); Diện tích tự nhiên 2.365 km2, dân số gần 1 triệu người với đông đồng bào dân tộc Khmer (chiếm khoảng 30%).

    Tỉnh Trà Vinh có mạng lưới sông, kênh, rạch chằng chịt do bị chi phối của hạ lưu sông Cửu Long, nhân dân tỉnh Trà Vinh hàng năm phải chung sống với lũ lụt, triều cường; vấn đề vệ sinh môi trường nói chung và nước sinh hoạt nói riêng, là vấn đề thách thức to lớn của tỉnh.

Từ khi tái lập tỉnh năm 1992:

- Trà Vinh có 81 cơ sở y tế gồm tỉnh, huyện, xã.

- Cơ sở vật chất: Các đơn vị trực thuộc Sở Y tế tuyến tỉnh hầu hết trụ sở làm việc phải ở đậu, ở nhờ ,chỉ có Bệnh viện đa khoa, Bệnh viện Y học cổ truyền, nhưng đã xuống cấp trầm trọng.

- Về nhân lực: Tổng số cán bộ công chức (CBCC) là 1.480 người, trong đó có 137 Bác sĩ, Dược sĩ đại học.

Đến năm 2005: Có 110 cơ sở y tế gồm tỉnh, huyện, xã, trong số tăng có Trường Trung học Y tế, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khoẻ, còn lại là trạm y tế.

- Cơ sở vật chất: Hầu hết các cơ quan đều được xây dựng mới, tuyến cơ sở đã đầu tư xây dựng mới  cho Trung tâm Y tế Cầu Kè, các Trung tâm Y tế còn lại được đầu tư hàng tỷ đồng để sửa chữa nâng cấp; Ở tuyến xã, phường, thị trấn, có 90% trạm Y tế được xây dựng mới hoặc sữa chữa nâng cấp.

- Trang thiết bị Y tế: Được đầu tư trang bị mới gần 90% theo danh mục ngành qui định, Bệnh viện tuyến tỉnh được trang bị tương đối hiện đại tương ứng với Bệnh viện loại II, về trình độ chuyên môn đã triển khai mổ sọ não, nội soi và một số chuyên khoa sâu khác, năm 2003 Bệnh viện được đầu tư máy chụp cắt lớp điện toán nhầm nâng cao chất lượng điều trị, đặc biệt là cấp cứu ngoại khoa do chấn thương sọ não.

- Công tác khám chữa bệnh: Tuyến tỉnh và huyện đều có đội ngũ cán bộ có trình độ Đại học, sau Đại học như Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Thạc sĩ ... và Bác sĩ chuyên khoa: Tai-Mũi-Họng, Răng-Hàm-Mặt, Mắt, Nội, Ngoại, Sản, Nhi và một số chuyên khoa khác, ở tuyến xã, phường, thị trấn 80% có Bác sĩ đa khoa và đội  ngũ Y sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ sinh Trung học, Dược sĩ trung học, Y sĩ Y học cổ truyền ... Từ đó công tác khám, điều trị tăng lên rõ rệt, năm 2005 tăng gấp 3 lần năm 1992. Đặc biệt công tác khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, người trong diện chính sách, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa trong các năm qua ngành Y tế đã phối hợp với các ban, ngành, các tổ chức từ thiện xã hội trong và ngoài tỉnh, nước ngoài.

- Công tác phòng bệnh, phòng chống dịch: Luôn được xác định là mục tiêu hàng đầu trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, và có một hệ thống được tổ chức đến tận xã, phường, thị trấn, ấp, khóm, đội ngũ cán bộ đảm bảo được số lượng và chất lượng, dụng cụ trang thiết bị cũng được đầu tư, đáp ứng được nhu cầu phục vụ nhân dân

- Về nhân lực: Tổng số cán bộ công chức (CBCC) là 2.039 người, trong đó có 385 Bác sĩ, 22 Dược sĩ đại học

- Ứng dụng kỹ thuật cao trong điều trị: Trong năm đã đầu tư trang bị máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scanner) cho Bệnh viện đa khoa tỉnh, tạo điều kiện chẩn đoán chính xác, xử lý kịp thời các ca bệnh mà  trước đây phải chuyển lên Bệnh viện tuyến trên để điều trị, nhất là các trường hợp chấn thương sọ não; đồng thời giúp cho người bệnh giảm được rất nhiều chi phí khi phải đi chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2010: Được xem là năm có nhiều chuyển biến mạnh mẽ của ngành y tế Trà Vinh, toàn tỉnh có 112 cơ sở khám chữa bệnh, với 1.825 giường bệnh; trong đó: 03 Bệnh viện tỉnh (800 giường), 6 Bệnh viện huyện (430 giường), 15 Phòng khám (150 giường) và 89 trạm y tế (445 giường), đạt tỷ lệ 13,8 giường bệnh/10.000 dân (không tính giường y tế xã); Cùng với việc phát triển y tế tuyến cơ sở, ngành y tế duy trì đảm bảo 100% xã có bác sĩ phục vụ.

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Bệnh viện ĐKKV Tiểu Cần (100 giường),  Bệnh viện Châu Thành (50 giường), Bệnh viện Lao và bệnh phổi (100 giường); khởi công xây dựng bệnh viện chuyên khoa Nhi (100 giường), bệnh viện chuyên khoa Phụ sản (100 giường) đảm bảo nhu cầu phục vụ sức khỏe nhân dân.

Tính đến cuối năm 2013, toàn tỉnh có 137 cơ sở khám, chữa bệnh, gồm: 12 Bệnh viện, 15 Phòng khám Đa khoa khu vực, 93 Trạm Y tế; 02 Trạm Y tế Quân Dân y kết hợp Đồn Biên phòng; 01 Trạm xá Công an; 01 Khu khám bệnh Quân Y Biên phòng; Ban Bảo vệ Sức khoẻ cán bộ; Phòng khám bệnh của TTYTDP tỉnh; Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản của 08 TTYT huyện/TP

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngành, công tác chuyên môn, quản lý bệnh viện, ứng dụng phần mềm M-Office trong trao đổi thông tin và phát triển trang Thông tin điện tử của ngành. Song song với việc triển khai Đề án Ứng dụng công nghệ thông tin ngành Y tế tỉnh Trà Vinh.

- Trong năm Bệnh viện đa khoa tỉnh được trang bị máy MRI, máy siêu âm, máy chạy thận nhân tạo, máy tán sỏi ngoài cơ thể tỷ từ nguồn quỹ kết dư BHYT

- Công tác nghiên cứu khoa học được duy trì hàng năm, tính riêng năm 2013 có 13 đề tài cấp ngành được nghiệm thu (trong đó có 04 loại A, 08 loại B và 01 loại C).

Năm 2015: ngành Y tế đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu và đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội.

- Toàn tỉnh có 141 cơ sở khám, chữa bệnh, gồm: 13 Bệnh viện, 15 Phòng khám Đa khoa khu vực, 94 Trạm Y tế, 05 Trạm Y tế kết hợp Quân Dân y, Ban Bảo vệ sức khoẻ cán bộ, Phòng khám bệnh của Trung tâm YTDP tỉnh, Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản của 09 TTYT huyện/thị xã/thành phố.

- Tổng số nhân lực toàn ngành Y tế: 3.031 người (trong đó: công chức 60 người, viên chức 2.971 người)

- Thực hiện Đề án 1816, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp nhận từ Bệnh viện Chợ Rẫy các kỹ thuật như: phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng và phẫu thuật thay khớp háng; tiếp nhận từ Bệnh viện Đại học Y Dược kỹ thuật phẫu thuật Phaco…từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề của cán bộ y tế tuyến tỉnh, giúp giảm chi phí cho bệnh nhân và giảm tải cho tuyến trên.

    Ngành Y tế Trà Vinh luôn vận động và phát triển từng ngày, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý và điều trị nhằm năng cao chất lượng phục vụ sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn.

 

Tổng số người truy cập