Báo cáo 6 tháng đầu năm 2008

UBND TỈNH TRÀ VINH                                                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    THANH TRA TỈNH                                                                            Độc lập  - Tự do  -  Hạnh phúc
       Số : 48/BC-TTr
.                                                                      Trà Vinh, ngày 16 tháng 6 năm 2008

BÁO CÁO
Sơ kết công tác thanh tra 6 tháng đầu năm 2008
 và chương trình công tác thanh tra 6 tháng cuối năm 2008

 

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và chương trình công tác thanh tra 6 tháng đầu năm 2008 của ngành .
Tập huấn toàn ngành tiếp tục thực hiện thanh tra chuyên đề diện rộng về ngành thuế theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ và Tổng Thanh tra; tập trung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm vào một số vấn đề kinh tế xã hội bức xúc ở địa phương; song song đó Thanh tra các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, tăng cường quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại - tố cáo; nhất là các vụ khiếu kiện đông người, phức tạp, góp phần không để điểm nóng phát sinh; luôn gắn công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo với công tác chống tham nhũng, chống lãng phí và thực hành tiết kiệm, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
Trên cơ sở báo cáo của thanh tra 10 sở ngành tỉnh và 8 huyện thị; Thanh tra tỉnh tổng hợp báo cáo sơ kết công tác thanh tra 6 tháng đầu năm như sau:
Phần 1: Kết quả công tác thanh tra 6 tháng đầu năm 2008:
I/ Công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo:
1/ Tình hình tiếp công dân:
Tổng số lượt tiếp công dân: 2.706 lượt người, gồm:
- 10 sở ngành tỉnh: 230 lượt người. (Thanh tra tỉnh 117 lượt người).
- 8 huyện - thị: 820 lượt người.
- 102/102 xã - phường - thị trấn: 1.656 lượt người.

2/ Tổng đơn nhận: 1.675 đơn, phân ra từng cấp như sau:
- 6 sở ngành tỉnh: 231 đơn. (Thanh tra tỉnh 92 đơn).
- 8 huyện - thị: 268 đơn.
- 102/102 xã - phường - thị trấn: 1.176 đơn.

3/ Tổng số đơn chuyển: 312 đơn, phân ra từng cấp như sau:
- 10 sở ngành tỉnh: 132 đơn. (Thanh tra tỉnh 68 đơn).
- 7 huyện - thị: 147 đơn.
- 52/102 xã - phường - thị trấn: 33 đơn.
4/ Tổng số đơn thuộc thẩm quyền: 1.363 đơn, trong đó:
- 10 sở ngành tỉnh: 99 đơn. (Thanh tra tỉnh 24 đơn).
- 8 huyện thị: 121 đơn.
- 102/102 xã - phường - thị trấn: 1.143 đơn.
* Phân tích nội dung 1.363 đơn thuộc thẩm quyền:
- Đất: 645 đơn.
- Nhà: 8 đơn.
- Tài sản: 213 đơn.
- Chính sách xã hội: 40 đơn.
- Giải tỏa bồi hoàn: 13 đơn.
- Khác: 442 đơn.
- Tố cáo: 2 đơn.
Nhìn chung, số vụ việc không nhiều, nhưng tính chất một số vụ việc khiếu nại phức tạp hơn, nhất là các khiếu nại tập thể, đông người đòi lại đất nhà nước đã quản lý trước đây, đã bố trí sử dụng vào mục đích công cộng, yêu cầu bồi hoàn về đất xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng...
5/ Kết quả giải quyết: 1.036/ 1.363 đơn thuộc thẩm quyền, đạt tỉ lệ 76,00%. Hình thức giải quyết: Hòa giải: 934 đơn, chiếm tỉ lệ 90,15%, ra văn bản hành chính: 102 đơn, chiếm tỉ lệ 9,85%.
* Từng cấp giải quyết như sau:
- 10 sở ngành tỉnh: 81/99 đơn, đạt tỉ lệ 81,81%. (Thanh tra tỉnh đạt 100%).
- 8 huyện - thị:  89/121 đơn, đạt tỉ lệ 73,55%.
- 102/102 xã, phường, thị trấn: 865/1.143 đơn, đạt tỉ lệ 75,68%.
* Nội dung 1.063 đơn đã giải quyết:
- Đất: 467 đơn.
- Nhà: 5 đơn.
- Tài sản: 161 đơn.
- Chính sách xã hội: 37 đơn.
- Giải tỏa bồi hoàn: 10 đơn.
- Khác: 355 đơn.
- Tố cáo: 1 đơn.
Nhìn chung, phần lớn các Sở ban ngành và UBND các cấp có tập trung, quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết ngày càng tốt hơn, trong giải quyết có linh hoạt áp dụng nhiều biện pháp phù hợp với từng sự việc, đặc biệt là công tác hòa giải đã phát huy được tác dụng thiết thực, góp phần giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc mâu thuẩn trong nhân dân, góp phần lớn trong giải quyết tranh chấp phức tạp, tồn đọng, cũng như các vụ việc mới phát sinh không để xảy ra điểm nóng ở đơn vị, địa phương, giữ vững sự ổn định tình hình an ninh trật tự xã hội ở cụm dân cư, đô thị và nông thôn.
6/ Đơn tồn: 327 đơn, trong đó từng cấp đơn tồn như sau:
- 10 sở ngành tỉnh:  18 đơn.
- 8 huyện - thị: 31 đơn .
- 102/102 xã, phường, thị trấn: 278 đơn.
Nhìn chung các loại đơn tồn của từng cấp còn trong hạn luật định.

7/ Đơn Thanh tra tỉnh đã chuyển cho các ngành, các cấp là 86 đơn. Việc các nơi phản hồi về  09 còn đơn hạn chế.
8/ Việc thực hiện các quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh:
- Tổng số quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh đã có hiệu lực chưa được thi hành của năm 2007 chuyển sang là 27 quyết định.
- Tổng số quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành mới trong 6 tháng đầu năm 2008 là 11 quyết định.
- Tổng cộng là 38 quyết định. Đã tổ chức thực hiện xong 10 quyết định ban hành mới.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh còn tồn 28 quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh đã có hiệu lực của những năm trước chưa được thi hành, cụ thể:

STT Đơn vị
(huyện – thị) Số QĐ tồn năm 2007 chuyển sang Số QĐ ban hành mới 2008 Số QĐ đã thực hiện Số QĐ
tồn đến 31/5/2007
01 Càng Long 09 03 03 09
02 Cầu Kè 02   02
03 Châu Thành 05 02 01 06
04 Duyên Hải 02 02 02 02
05 TXTV 05  02 03
06 Tiểu Cần 03   03
07 Trà Cú 01 02  03
08 Cầu Ngang 00 02 02 00
09 Tổng cộng 27 11 10 28
* Nguyên nhân chưa thực hiện quyết định:
- Lãnh đạo một số địa phương, từng lúc còn buông lỏng, quan tâm chưa đúng mức đến công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định.
- Một số địa phương còn ngại đụng chạm, không kiên quyết tổ chức thực hiện, còn lúng túng trong áp dụng biện pháp và trình tự, thủ thục tổ chức thực hiện quyết định, nên để sự việc kéo dài.

9/ Đánh giá chung về thuận lợi, khó kăn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra:
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm lãnh chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cấp ủy, chính quyền địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh có kế hoạch số 07 về thực hiện thông báo 130 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 16 ngày 12/6/2008 của banh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người.
- Có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, sự nỗ lực từng cán bộ, công chức thanh tra, kịp thời tham mưu cho lãnh đạo chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần giữ vững sự ổn định tình hình an ninh trật tự ở địa phương, không để điểm nóng diễn ra trên địa bàn, giảm số lượng khiếu nại đông người và đơn thư vượt cấp.
- Có hệ thống pháp luật đầy đủ làm cơ sở cho ngành áp dụng thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.

* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ còn những khó khăn như sau:
- Nhiều địa phương thiếu cán bộ tiếp dân, cán bộ tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương, cơ sở.
- Số đơn thanh tra chuyển về các địa phương, đơn vị việc phản hồi ớt, chậm

II/ Công tác thanh tra kinh tế - xã hội và Nội chính - Văn xã:
Tổ chức thực hiện 9 cuộc, kết thúc 7 cuộc,
A/ Thanh tra tỉnh:
+Thanh tra tỉnh kết thúc và hoàn thành báo cáo kết quả thanh tra việc chỉ đạo và thực hiện chủ trương bán khu đất sân Vận động của huyện ủy, Cầu Ngang. Qua phát hiện nhiều sai phạm đoàn thanh tra kiến nghị xử lý hành chính.
+ Thanh tra Công ty Cấp thoạt nước tỉnh Trà Vinh từ năm 2005 đến nay.Trong quá trình thanh tra đã thu hồi 418.685.655đ.
+ Thanh tra toàn diện quá trình hoạt động của Trung tâm đào tạo kỹ thuật – Nghiệp vụ giao thông vận tải và ban quản lý sát hạch cấp giấy pháe lái xe, trực thuộc Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Trà Vinh.
+ Đoàn khái thác cát sống đã thu hội sau thanh tra với số tiền là: 260.936.340đ
B/ Thanh tra huyện - thị:
+ Tổng số cuộc thanh tra được tiến hành 06 cuộc, kết thúc 06 cuộc.
+ Tổng số tiền sai phạm về kinh tế: 644.307.422đ
+ Kiến nghị xử lý bao gồm :
- Về kinh tế : Kiến nghị thu hồi  182.274.422đ.

b.1/ Thanh tra huyện Trà Cú:
+ Thanh tra ngân sách và Quỹ vận động nhân dân xã An Quảng hữu, qua thanh tra đề nghị thu hồi 65.544.422đ, đã thư hồi được 39.452.350 đồng, bên cạnh đề nghị xử lý hành chính 03 cá nhân sai phạm.
+ Thanh tra ngân sách xã Tân Sơn, bước đầu phát hiện dai phạm và đề nghị thu hồi 35.060.480đ, đả thu hồi được 18.225.980đ ( nộp vào tài khỏan chờ xử lý 13.872.500đ và trả trực tiếp cho người bị hại 2.962.000đ)

b.2/ Thanh tra huyện Tiểu Cần:
+ Thanh tra về tài chính, ngân sách, quản lý công sản và việc thực hiện chức trách công vụ của cán bộ công chức của UBND thị Trấn Tiểu Cần. Qua thanh tra phát hiện sai phạm nguyên tắc tài chính với số tiền là 349.444.000đ. đòan đã kiến nghị thu hồi với số tiền là 66.730.000đ do chi sai chế độ quy định và chứng từ khống để thanh toán.
+ Thanh tra tài chính đối với phòng nông nghiệp – Thủy sản huyện trình Chủ tịch UBND huyện kết luận.

b.3/ Thanh tra huyện Càng:
+ Tiếp tục tiến hành khảo sát thanh tra theo kế hoạch năm 2008
b.4/ Thanh tra huyện Cầu kè: tiếp tục tiến hành khảo sát thanh tra theo kế hoạch năm 2008.

b.5/ Thanh tra huyện Châu Thành:
+ Thanh tra ngân sách xã Hòa Minh đến nay Đoàn đã kết thúc và thông qua báo cáo dự thảo kết luận đoàn thanh tra.
b.6/ Thanh tra thÞ x• Trµ Vinh:
+ Thanh tra công tác lập bộ thuế nhà, đất trên địa bàn 09 phường và xã Long Đức thị xã Trà Vinh) đã thông qua báo cáo kết quả thanh tra lập bộ thuế nhà, đất trên địa bàn thị xã Trà Vinh).

b.7- Thanh tra huyện Duyên Hải:
Thanh tra ngân sách xã Ngụ lạc. Qua thanh tra phát hiện tổng sai phạm 179.319.000đ hiện đang trong thời gian kiến nghị xử lý.
Kiểm tra thu chi tài chính tổ hợp tác nuôi nghêu ấp chợ, xã Hiệp Thạnh theo đơn khiếu nại của các hộ dân trong tổ. Kết quả kiểm tra không đúng như nội dung khiếu nại, Qua đó đoàn kiểm tra tổ chức buổi họp mặt để trả lời cho tất cả tổ viên biệt, đồng thời thu hồi nợ bán nghêu về cho tổ hợp được 50.000.000đ (do thương lái chiếm dụng quá hạn thanh toán)

C/ Thanh tra sở ngành:
C.1/ Thanh tra 7 sở ngành trực thuộc UBND tỉnh (Thanh tra Y tế;Tài nguyên Môi trường; Sở Nông nghiệp phát triển Nông thôn; Sở Thông tin và Truyền Thông; Sở Giao Thông- Vận tải; Sở Kế Hoạch- Đầu Tư, Cục Thống kê) : Tiến hành thanh, kiểm tra theo chuyên ngành được 3.710 đơn vị, cơ sở, phát hiện 969 đơn vị, cơ sở có vị phạm, phạt vi phạm hành chính với hình thức:
+ Phạt tiền 81 đơn vị, cơ sở số tiền : 137.900.000đ.
Ngòai ra còn tịch thu một số tang vật khác, như giấy pháp hành nghề…..
c.2/-  Thanh tra sở ngành trực thuộc Trung ương :

* Thanh tra Ngân hàng Nhà nước: 6 tháng đầu năm 2008 đã tổ chức 06 cuộc, số cuộc đã kết thúc 04 cuộc đối với các TCTD nhà nước,
Qua kiểm tra xử lý sai phạm là 15 kiến nghị đối với các đơn vị được thanh tra, trong đó kiến nghị đối với thanh tra NHNN Việt Nam; 14 kiến nghị đối với các đơn vị được thanh tra ( 03 kiến nghị đối với BĐD HĐQT các cấp, 11 kiến nghị về công tác tính dụng.
* Thanh tra quốc phòng: Chỉ huy trưởng đề ra kế hoạch về công tác thanh tra năm 2008.
Đã tiến hành phúc tra công tác huậu Cần, tài chính  Ban CHQS huyện Cầu Kè ( đơn vị đã khắc phục khuyết điểm, có chuyển biến tốt.

* Thanh tra Công an tỉnh:
- Hoàn thánh báo cáo kết quả thanh tra và tham mưu cho Giám đốc Công an tỉnh ban hành kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác tạm giữ, tam giam, thu giữ xử lý vật chứng và công tác thi hành án phạt tù năm 2008. Qua thanh tra đã đề ra 05 kiến nghị để chấn chỉnh các mặt công tác.
- Thực hiện quyết định số 08/QĐKTr-CAT ( PV24) ngày 13/12/2007 của giám đốc Công an tỉnh về việc thành lập Tổ kiểm tra công tác cải cách hành chính trong lực lượng Công an toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2008. Qua kiểm tra đề ra 03 kiến nghị để Ban Giám đốc chỉ đạo chấn chỉnh các mặt công tác.
- Đã tiến hành thanh tra xong việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với sở Nông nghiệp phát triển Nông thôn, sở Xây dựng, UBND huyện Cầu Kè, UBND huyện Tiểu Cần, đang tập hợp số liệu để báo cáo kết quả thanh tra và tham mưu cho Giám đốc kết luận thanh tra

Tóm lại, thanh tra các ngành, các cấp có phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, tiến hành thanh tra có trọng tâm, trọng điểm những yêu cầu bức xúc ở địa phương theo đúng kế hoạch của ngành đã được Chủ tịch UBND cùng cấp, thủ trưởng cùng cấp phê duyệt đầu năm, gắn công tác thanh tra với việc phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động quản lý Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh nhà.
Bên cạnh đó, công tác thanh tra kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm  20087 còn một số hạn chế như sau:
+ Thanh tra ở một số sở ngành, địa phương từng lúc chưa thực hiện tốt chức năng thanh tra, kiểm tra ngăn ngừa là chính, mà chủ yếu tập trung thanh tra các vụ việc có dư luận phản ánh tiêu cực, vi phạm pháp luật.
+ Thanh tra Sở - ngành tuy có thực hiện tốt chức năng thanh kiểm tra chuyên ngành, nhưng ít tổ chức được các cuộc thanh tra kinh tế đối với các đơn vị trực thuộc.

III/- Công tác xây dựng lực lượng :
Các ngành, các cấp luôn quan tâm củng cố kiện toàn, sắp xếp tổ chức thanh tra theo hướng cải cách hành chính; đặc biệt thanh tra các sở ban ngành tỉnh ngày càng nâng dần đội ngũ công chức thanh tra cả về số lượng và chất lượng.
Toàn ngành có 144 CBCNV, trong đó 76 đ/c được bổ nhiệm Thanh tra viên ( gồm 10 đ/c Thanh tra viên cấp II; 65 đ/c Thanh tra viên cấp I), cụ thể:
+ Thanh tra tỉnh có 29 đ/c, trong đó 15 đ/c được bổ nhiệm Thanh tra viên (Thanh tra viên cấp II: 8 đ/c; Thanh tra viên cấp I: 7 đ/c ).
+ Thanh tra 17 sở ngành trực thuộc UBND tỉnh có 83 đ/c, trong đó 34 đ/c được bổ nhiệm Thanh tra viên (Thanh tra viên cấp II: 02 đ/c; Thanh tra viên cấp I: 32 đ/c ).
+ Thanh tra 8 huyện thị có 32 đ/c, trong đó 27 đ/c được bổ nhiệm Thanh tra viên (Thanh tra viên cấp I: 26, Thanh tra viên cấp II: 01).
Về cán bộ quản lý:
+ Thanh tra tỉnh: có 4 đ/c lãnh đạo, trong đó: Chánh Thanh tra: 1 đ/c, Phó Chánh Thanh tra: 3 đ/c.
+ Thanh tra 17 sở ngành trực thuộc UBND tỉnh: 25 đ/c lãnh đạo, trong đó: Chánh Thanh tra: 15 đ/c, Phó Chánh Thanh tra: 10 đ/c.
+ Thanh tra 8 huyện thị có 16 đ/c lãnh đạo, trong đó: Chánh Thanh tra: 8 đ/c, Phó Chánh Thanh tra: 8 đ/c.
Về công tác đào tạo: Các đơn vị rất quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, có kế hoạch đưa cán bộ đi học luân phiên, đảm bảo vừa học, vừa làm, đây là một cố gắng rất lớn của ngành. Toàn ngành có 65 đ/c trình độ đại học (Thanh tra tỉnh 22 đ/c, huyện thị 12 đ/c), sở ngành 31 đ/c); về chính trị: 06 đ/c cử nhân, 17 đ/c cao cấp; 17 đ/c trung cấp; 52 đ/c đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra (cơ bản: 45, nâng cao: 7); 28 đ/c được trang bị kiến thức quản lý Nhà nước . Hiện có 30% đang theo học các lớp: Đại học, chính trị, ngoại ngữ, tin học.
Nhìn chung, chất lượng đội ngũ công chức thanh tra ngày một được nâng lên, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành và nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Trong 6 tháng đầu năm 2008 toàn thể cán bộ, công chức của ngành có thực hiện tốt pháp luật của Nhà nước và 5 điều kỷ luật của ngành.
Tuy nhiên, biên chế cán bộ thanh tra còn thiếu so với yêu cầu công việc, nhất là ở huyện thị thiếu những cán bộ chuyên môn kỹ thuật như Đại học kinh tế, Đại học tài chính kế toán, Đại học xây dựng, từ đó ảnh hưởng không ít đến việc triển khai các cuộc thanh tra đòi hỏi về kỹ thuật chuyên ngành, triển khai các cuộc thanh tra đột xuất theo sự chỉ đạo của Cấp ủy, UBND cùng cấp.

Phần thứ 2: Chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2008:
1/ Lĩnh vực thanh tra xét khiếu tố:
- Tổ chức tiếp dân, xử lý đơn thường xuyên theo qui định. Tập huấn công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại cho huyện thị, sở, ngành liên quan.
- Tập trung giải quyết dứt điểm số đơn thuộc thẩm quyền, không để đơn tồn quá hạn luật định và các vụ việc phức tạp, cố gắng ngăn ngừa không để điểm nóng phát sinh.
- Thanh tra các cấp thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại về đất đã có hiệu lực pháp luật theo đúng qui trình được Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh ban hành. Tập trung cùng địa phương tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định tồn đọng kéo dài.
- Chủ động kết hợp các ban ngành chức năng theo dõi chặt chẽ tình hình khiếu nại, tố cáo ở địa phương và tiến hành phúc tra các vụ việc do cấp ủy, UBND cùng cấp giao, đảm bảo chính xác, đúng pháp luật, đúng thời gian Luật định.
- Thanh tra tỉnh chủ trì kết hợp cùng ngành chức năng tỉnh hỗ trợ UBND các  huyện, thị khi có vụ việc phức tạp.
- Tham mưu UBND tỉnh ban hành cơ chế chính sách chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại cho phù hợp với qui định của pháp luật hiện hành và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho địa phương, ngày càng đưa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt kết quả tốt hơn.

2/ Lĩnh vực thanh tra kinh tế xã hội:
- Thanh tra các cấp tiến hành tổ chức thanh tra theo chỉ đạo của UBND và Thủ trưởng cùng cấp. Tập trung các dự án đầu tư phát triển nông thôn, xóa đói, giảm nghèo, những vấn đề bức xúc ở địa phương.
- Tiến hành thanh tra đột xuất khi có đơn thư tố cáo theo chỉ đạo của Cấp ủy, UBND cùng cấp .
- Tiến hành thanh tra diện rộng ngành Thuế theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phụ và Thanh tra Chính phủ.
- Đối với Thanh tra sở, ngành tỉnh: Ngoài thực hiện kế hoạch thanh tra chuyên ngành theo chỉ đạo của Bộ, ngành Trung ương, phải tổ chức thanh tra hoạt động tài chính ít nhất 01 đơn vị trực thuộc sở, ngành.
- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị của các Đoàn thanh tra.
Riêng Thanh tra tỉnh:
- Kết thúc 02 Đoàn thanh tra: Công ty Cấp Thoát nước và Trung Tâm đào tạo Nghiệp vụ - kỹ thuật Giao thông Vận tải, trực thuộc Sở Giáo thông Vận tải.
- Tổ chức Đoàn thanh tra diện rộng theo chỉ đạo của Tổng Thanh tra Chính phủ về ngành thuế.
- Tiếp tụcc khảo sát , tổ chức đoàn thanh tra theo kế hoạch năm 2008 và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3/- Về tổ chức xây dựng ngành :
- Kiện toàn tổ chức bộ máy ngành, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kịp thời đưa cán bộ, công chức dự các lớp đào tạo bồi dưỡng theo kế hoạch của ngành và của tỉnh.
- Thường xuyên giáo dục tư tưởng cho cán bộ, công chức, tổ chức học tập, giáo dục phòng, chống tham nhũng, lãng phí; học tập Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng lực lượng của ngành vừa có đức, tài và tâm, trong sạch, thực hiện nghiêm 5 điều kỷ luật của Tổng Thanh tra Chính phủ và phát huy tốt việc thực hiện qui chế dân chủ trong họat động cơ quan.
- Hoàn thành thủ tục đề nghị bổ nhiệm Thanh tra viên; cho cán bộ công chức của ngành đảm bảo tiêu chuẩn đúng theo quy định.
- Thực hiện tốt công tác thông tin báo cáo hai chiều, nhằm giúp cho Lãnh đạo quản lý, chỉ đạo điều hành hoạt động của ngành được chặt chẽ, đạt hiệu quả ngày càng tốt hơn.
- Tổng kết phong trào thi đua khen thưởng cuối năm; kịp thời khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, đồng thời phát động phong trào thi đua năm sau cho ngành tiếp tục lập nhiều thành tích xuất sắc gắn với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ thanh tra được giao.

Trên đây là nội dung báo cáo sơ kết công tác thanh tra 6 tháng đầu năm 2008 và chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2008 của ngành Thanh tra tỉnh Trà Vinh./.


                                                                                                                            CHÁNH THANH TRA
                                                                                                                               

 

                                                                                                                                               Nguyễn Văn Ngó
Nơi nhận:
                                                                    
- TT TU; TT HĐND tỉnh;
- CT UBND tỉnh (b/c);                                                   
- TTCP;
- NCNC UBND tỉnh;
- BLĐ TTra tỉnh;
- Sở KH-ĐT;
- Ban chỉ đạo phũng, chống tham nhũng;
- Thanh tra Sở-ngành, huyện-thị;
- Các phòng thuộc Ttra tỉnh;
- Lưu VP.