CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NGÂN VANG TRONG LÒNG THƠ CA

NGUYỄN VĂN HIẾU


Cảm hứng cách mạng mùa Thu sôi nổi, hào hùng
Cảm hứng thơ về Cách mạng Mùa thu năm 1945 là nguồn cảm hứng mãnh liệt như “thác lũ tràn về”, một nguồn thơ mới dồi dào sôi nổi, chưa từng có trước đó. Thời khắc thiêng liêng lịch sử đóng đanh một dân tộc nô lệ thoát thai trở thành người chủ của dân tộc chính từ đây:
“Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi hàng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
  (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)


Nguyễn Đình Thi huống hồ đã phải reo lên niềm vui bất tận được làm chủ núi sông như một đứa trẻ khi mà trước đó nhà thơ hoài niệm: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/Những phố dài xao xác heo may”. Niềm vui độc lập đến quá bất ngờ, nhà thơ Nguyễn Đình Thi như chưa thể tin vào mắt mình trước những đổi thay lớn lao của dân tộc. Một thoáng ngỡ ngàng để rồi vỡ òa hạnh phúc, tác giả của bài Đất nước viết:
“Mùa thu về bỡ ngỡ sáng nay
Gặp những chàng trai bên hồ hò reo say
Reo reo hò cờ rực rỡ đỏ ánh cây
Thoáng sao vàng nghiêng nghiêng vẫy”.


Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, mới nhất nhanh nhất trong cách tiếp cận cách mạng, thốt lên:
“Có một suối thơ chảy từ gần gũi
Rất xa xôi và lại đến gần quanh
Một suối thơ lá ngọt với hoa lành
Nói trong sớm và giỡn cười dưới phố”
(Nguồn thơ mới- Xuân Diệu)


Phạm Huy Thông, giọng thơ liêu trai của phong trào Thơ mới, ngỡ đã buông bút khi sang Pháp du học bậc Cao học chuyên ngành khảo cổ, từ xa ngàn dặm khi nghe tin cách mạng thành công cũng liền gửi về nước một nỗi niềm, một ước mơ:
“Đờn thi sĩ vốn từ lâu treo vách
Ca sao đang trong buổi đất trời xiêu
Bỗng thèm ca những công lao hiển hách
Của Kim tinh chói lọi trên cờ điều”
(Chào sứ giả tự do-Phạm Huy Thông)


Hơn thế nữa, Cách mạng Tháng Tám còn mang đến cho thơ ca những cảm hứng sáng tạo lớn lao, thoát khỏi những quẩn quanh, bế tắc, chán chường, tuyệt vọng. Cảm hứng ca ngợi đất nước giải phóng, Tổ quốc tự do được biểu hiện rõ trong nhiều bài thơ của nhà thơ Tố Hữu:
“Ngực lép bốn ngàn năm trưa nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời”
(Trích trong Huế tháng Tám)


Niềm vui chung đó, Tố Hữu gọi là niềm “Vui bất tuyệt” và hàng loạt bài thơ: “Vui bất tuyệt”, “Trường tôi”, “Tình khoai sắn”, “Hồ Chí Minh”... đều thể hiện sự tin tưởng vào tương lai, niềm hạnh phúc viên mãn giữa ngày thắng lợi của dân tộc:
“Ta đi dưới bốn ngàn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nhụy vàng tươi
Ta đi đây, với thế kỷ hai mươi
Mạch suối trẻ trong dòng người vô địch!”.


Đất nước trong niềm vui bất tuyệt của những ngày Tháng Tám với vẻ đẹp lạ lùng:
“Gió ơi gió! Hãy làm giông làm tố
Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi
Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác…”.


Sau bao “máu lửa” và “xiềng xích”, Tố Hữu đã reo vui trong ngày hội:
“Hãy bay lên sông núi của ta ơi
Nước mắt ta trào húp mí tràn môi
Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc
Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc
Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta
Ta hét huyên thuyên, ta chạy khắp nhà
 (Huế tháng Tám- Tố Hữu)


Thâm Tâm, nhà thơ của Tống biệt hành cũng gạt bỏ những “Chán ngán tình gia sầu ngất ngất/ Già teo thân thế hận mang mang”, để gắn bó với cuộc đời mới, khung cảnh “mùa thu mới”:
“Trái hồng trĩu xuống cây rơm
Sáng nay mùa cốm dậy thơm đầy làng
Lúa vươn thân hút ánh vàng
Nguồn tươi vống nở thu sang mát lành”.


Hình ảnh hết sức bình dị của làng quê thôi: “cây rơm”, “mùa cốm”, thân lúa, không khí “mát lành”…ấy vậy mà sức sống ngày mới của đất trời, của thiên nhiên bừng dậy rộn ràng, tràn trề, viên mãn “trái hồng trĩu xuống”, “dậy thơm đầy làng”, “nguồn tươi vống nở”


Một gương mặt thơ nổi tiếng trước Cách mạng, nhà thơ Trần Huyền Trân, thường nói nhiều đến đời sống cơ cực và phảng phất nỗi đau buồn của con người không có tự do. Sau khi Cách mạng thành công, một Trần Huyền Trân rất khác, nhìn mọi thứ sôi nổi, rạo rực và ngồn ngộn sự sống, sức sống:
“Một sáng tung cờ đỏ
Bố về với súng gươm
Mừng lau hàng lệ rỏ
Mắt mẹ tan mù sương
Tám mươi năm bụi phủ
Mưa rào phút sạch trơn”.


Bốn dòng đầu miêu tả cụ thể nỗi mừng vui ngày đoàn tụ, hai dòng sau khép lại bằng sự khái quát rất đỗi tự nhiện về thành quả cách mạng theo quy luật vận động biện chứng “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”.
Nhà báo cộng sản Xuân Thủy với tâm hồn thơ đầy lạc quan cách mạng đã tưởng tượng đến một tương lai tươi đẹp khi cách mạng thành công:
“Ta nghĩ ngày mai hết đói nghèo
Hết tù hết tội hết gieo neo
Trong ngoài bốn bể anh em cả
Ôi đẹp vườn xuân những sớm chiều”
(Không giam được trí óc)


 Và quả thật, ngày mai ấy đã trở thành hiện thực, Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ thực dân phong kiến bị đạp đổ, một xã hội mới tươi đẹp do nhân dân làm chủ:
“Chao ôi nước mất nhà tan
Hôm nay lại thấy giang san bốn bề”
(Ngày độc lập)


Cách mạng Tháng Tám dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta đã giành được chính quyền. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Lầu Ngọ Môn-Kinh thành Huế đã chứng kiến sự kết thúc vĩnh viễn chính quyền phong kiến Việt Nam:
“Ngày xưa vua đứng dậy
Áo vàng, vành khăn úa
Tháng Tám dân vùng lên
Hết cuộc đời vua chúa”
(Đứng trên Ngọ Môn –Thanh Hải)

Và thế là: “Mùa thu từ năm đó/Mùa thu từ bắt đầu/Cho năm tháng mai sau/Cho những ngày rực rỡ” (Mùa Thu ở Huế-Thanh Hải).


Cũng trong mùa thu độc lập đầu tiên, tại miền Nam, trong niềm xúc động nghẹn ngào trước sự thành công rực rỡ của Cách mạng Tháng Tám và sự kiện các chiến sĩ cách mạng bị giam ở Côn Đảo được trở về đất liền, Bảo Định Giang có những vần thơ ngập tràn cảm xúc: “Tháng Tám mùa thu vui vận mới/Hai bờ Bảo Định rực cờ son” (Nhìn về quê ngoại).


Cách mạng Tháng Tám là một hiện thực lịch sử kỳ vĩ lan tỏa trong thơ Nguyễn Xuân Sanh, nét thực của đời sống đang chiếm lĩnh, thanh lọc cảm xúc, tạo nên cách viết không cầu kỳ, bế tắc như những vần thơ bí hiểm trước đây. Những cảm nhận ban đầu về cách mạng trong thơ anh:
"Ta khát vô biên ngọn sóng vang
Ta mừng hội gió lúc lên đàng
Ta hát vô biên trên sách mới
Và trên thế giới đượm Tràng giang"

Đoàn Văn Cừ được biết đến qua những vần thơ trước Cách mạng Tháng Tám là nhà thơ của làng quê mộc mạc, chân chất, bình dị đến nao lòng. Giờ đây, cũng là những phong tục, hội hè, đình đám, cũng là những nét đẹp dung dị của lũy tre, cây đa, bến nước, cũng vẫn là những phiên chợ tết mưa xuân lất phất và cũng vẫn là nông thôn, làng quê có chiếc nón quai thao, những cô yếm đỏ, những cụ già râu tóc bạc phơ... Song, bên cạnh những giá trị văn hóa truyền thống mà Cách mạng Tháng Tám mang trả lại, còn tích hợp những giá trị mới, một sức sống mới trong hồn dân tộc được phục sinh, tân tạo:
"Bao thôn nữ hôm qua còn yếm đỏ
Miệng hoa cười tươi tựa ánh bình minh
Hôm nay đều ra khỏi lũy tre xanh
Với dòng máu quật sôi trong huyết quản"


Còn ở nhà thơ Trần Mai Ninh, ông phát hiện, khám phá một bình diện mới khi viết về Đất nước - Tổ quốc. Đất nước đẹp không chỉ vì thế núi, hình sông hùng vĩ, không chỉ vì màu xanh biển trời, mây nước, mà còn ở chất thơ của vùng đất anh hùng, của những con người sống dậy một sức sống mới khi được làm chủ cuộc đời mình đang lao vào kiến thiết:
"Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất
Căng như đồng
Tay ghì cán cuốc
Tay ghì tay xe
Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao...
Có mối tình nào hơn thế nữa? "


Những ngày đầu thu Cách mạng này, không thể không xúc động khi đọc lại những vần thơ ca ngợi đất nước tự do, ca ngợi Cách mạng Tháng Tám, nhất là trường ca “Ngọn quốc kỳ” của nhà thơ Xuân Diệu, mà đoạn mở đầu trường ca đã là tiếng reo vui bất tận của ngày tươi sáng:
“Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo;
Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng.
Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo;
Gió hát trên đồng: máu đỏ cao treo.

Gió bay đi, mà nhạc cũng bay theo,
Đưa tin mới khắp trên trời nước Việt.
Hoa cỏ đón, mà núi sông cũng biết,
Cờ Việt Nam oanh liệt gió mừng bay!

Vàng huy hoàng sinh giữa thắm hây hây.
Thắm lộng lẫy nở quanh vàng rực rỡ:
Tất cả vải là một cười thắm đỏ!
Tất cả cờ là một tiệc triêu dương!”


Cách mạng Tháng Tám mở ra một chân trời mới cho đất nước. Đất nước được giải phóng. Cách mạng đem lại cho Xuân Diệu cái đích của cuộc sống, hướng sáng tác của anh vào mục tiêu phục vụ nhân dân. Xuân Diệu say sưa cảm nhận cuộc sống mới với một nguồn thơ mới yêu đời, tươi sáng. Anh đã chào đón Cách mạng một cách hào hứng sôi nổi. Vui với duyên đầu cách mạng, bằng nhiệt tình công dân hứng khởi, Xuân Diệu tập trung cảm xúc, ngợi ca "Ngọn quốc kỳ" với đậm chất tráng ca và sử thi Cách mạng. Ngọn quốc kỳ trong thơ Xuân Diệu phải chăng là lá cờ biểu trưng cho Tổ quốc - Đất nước - Dân tộc:
"Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả
Máu nén lâu từ ấy đã bùng ra
Những cửa lều xơ xác cũng ra hoa
Trên gốc cũ nẩy một chồi sống mới
Cả anh dũng cũng tưng bừng trở lại
Một trăm năm tan nát tựa sương mù".


Ngọn quốc kỳ đã tung bay trong những ngày tràn ngập ánh sáng của cách mạng. Những ngày ấy tươi mới trong lòng người. Đất nước như tập trung hiện bật lên trên lá cờ đỏ sao vàng:
- Cờ bay!
Cờ bay sáng! Cờ bay hồng! Rạng rỡ!
Hỡi dân Việt! Cờ của ta vẫy đó,
Tiến lên! tiến lên! theo sứ mạng non sông!
Cờ là ta, là dân chúng, cờ mọc tựa vừng đông,
Sống hay chết, chẳng nhục dòng giống Việt!
Dân là nước, nước là ta, đã quyết!
Kìa sao vàng máu đỏ đã cao treo!


Cách mạng Tháng Tám, vì vậy, đã tạo nên một không khí mới, phẩm chất mới cho thơ ca.


Cảm hứng ngày Độc lập thiêng liêng
Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố với đồng bào cả nước về việc: Thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Tố Hữu cất lên với niềm tự hào tha thiết:
“Hôm nay sáng mùng Hai tháng Chín
Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ, chim cũng nín
Bỗng vang lên tiếng hát ân tình:
- Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh…
Người đứng trên đài lặng phút giây
Trông đàn con đó vẫy hai tay
Cao cao vầng trán ngời đôi mắt
Độc lập bây giờ mới thấy đây.”
(Sáng mồng 2 tháng 9-Tố Hữu)
2 tháng 9, cái ngày lịch sử diệu kỳ mà trong ký ức người dân Việt không thể phai mờ :
 “Trên Chính phủ lễ đài lồng lộng
  Hồ Chí Minh, Người bỗng hiện ra
 Ka-ki bộ áo hiền hòa
Long lanh đôi mắt đậm đà chòm râu...
Và:
“Hợp quần sức mạnh vô song
- Nghe tôi nói, có rõ không đồng bào?
Thưa rõ lắm, trời cao đất rộng
Lời mỗi lời rung động tâm can”
(Ngày độc lập-Xuân Thủy)


Cảm hứng về hình tượng Bác Hồ
Trong những vần thơ Tháng Tám độc lập, bên cạnh những bài thơ thể hiện chủ đề Đất nước-Dân tộc, còn có một hình tượng thơ lớn cũng gây xúc động trong lòng người đọc, được các nhà thơ tập trung ngòi bút khắc họa - đó là hình tượng Bác Hồ.
Nhà thơ Tế Hanh có bài "Hồ Chí Minh" thể hiện những suy nghĩ của nhà thơ về lãnh tụ, là sự ngưỡng mộ thành kính. Ông phác thảo chân dung Hồ Chí Minh, Người cầm lái vĩ đại của con thuyền Cách mạng dân tộc, với khí phách anh hùng mà vô cùng gần gũi:
"Sáng láng, ôn tồn, thành tâm, quyết chí
Sóng gió khinh, sấm sét chẳng kinh hoàng
Hồ Chí Minh, chỉ là Người có thể
Đưa con thuyền tổ quốc đến vinh quang"


Một thành công khác khi viết về hình tượng Bác Hồ, không hẹn mà gặp, cũng có nhan đề "Hồ Chí Minh" được Tố Hữu viết ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công trong cả nước (26/8/1945). Bài thơ là sáng tác hết sức có giá trị về đề tài lãnh tụ trong thơ ca hiện đại. Vượt lên những hạn chế của những bài thơ tả, kể hay cảm xúc mang thuần túy tưởng tượng về Bác, nên cách thể hiện còn trừu tượng, hình ảnh và ngôn ngữ không thoát ra màu sắc lãng mạn. Riêng Tố Hữu, nhà thơ  nêu bật ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần lạc quan cách mạng của nhân dân tập trung trong con người Hồ Chí Minh, sự gắn bó máu thịt giữa quần chúng và Bác Hồ - Người kết tinh, dung hội nguyện vọng, sức mạnh vĩ đại của giai cấp, dân tộc. Đây là lần đầu tiên hình ảnh lãnh tụ xuất hiện trong thơ bằng dáng nét kiêu bạc của con người:
"Đánh trăm trận thề trăm phen quyết thắng
Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng
Hồn vẫn tươi vui thơm ngát tình đời
Bước trường chinh dẫu mỏi gối, khan hơi
Tim gang thép vẫn tưng bừng lửa chiến"


Nhà thơ Anh Eoan Maccon đã dựng lại chân dung Bác một cách đầy sinh động yêu mến và cảm phục:
“Hồ Chí Minh – Ông già thuyền trưởng
Đã từng qua bốn biển năm châu
Sinh cảnh đói nghèo, lớn bước gian lao
Lòng sạch, chí cao đã thành thép qua nghìn lửa đạn
Hồ Chí Minh dong buồm về nước
Vung cánh tay ngang trời Tổ quốc
Kêu gọi nhân dân lớp lớp theo Người
Để thoát kiếp ngựa trâu xây lại cuộc đời…
Phất cao cờ Việt Minh chói sáng
Làm một mùa thu cách mạng
Đánh Pháp tan tành, đánh Mỹ đảo điên”
 (Hồ Chí Minh, Eoan Macccon -  Anh, Đào Anh Kha dịch)


An Nguyên thể hiện tình cảm kính yêu Bác một cách đơn sơ mà đằm thắm của những câu thơ lục bát lắng sâu:
“Hôm nay cả nước vui hơn
Mừng ngày Quốc khánh nhớ ơn Bác Hồ”
 (Mừng Quốc khánh)


Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà trang nghiêm trong buổi lễ đọc Tuyên ngôn lịch sử năm xưa cũng được Thanh Đạm tái hiện lại một cách trang trọng: “Lá cờ Tổ quốc bay cao/Mùng hai tháng Chín Bác chào toàn dân/Lời Bác như tiếng chuông ngân/Tuyên ngôn độc lập quốc dân đồng bào” (Bác Hồ).


Có thể nói, cảm hứng thơ giai đoạn này về Bác chủ yếu khởi phát từ tấm lòng chân tình biết ơn, và cảm phục, chưa thấy được hết mối quan hệ giữa lãnh tụ - quần chúng và những phẩm chất cao quý khác của Người.
Những vần thơ viết về Cách mạng Tháng Tám đã làm sống lại những ngày mùa thu lịch sử. Cách mạng Tháng Tám 1945 như ánh bình minh rực rỡ soi rọi khắp núi sông, xua tan đi cái giá lạnh của đêm trường nô lệ, làm thay đổi cuộc đời của mọi người dân Việt nói chung và thay đổi “ngòi bút” của mỗi nhà thơ nói riêng.

H. L