NGUYỄN VĂN HIẾU

Mưa trong thơ ca trung đại
Từ xưa đến nay, thơ ca viết về mưa cũng nhiều như những cơn mưa mùa mưa vậy. Trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, hình tượng mưa gắn liền với hệ thống thiên nhiên lung linh, huyền ảo, thoát tục và nó cũng là nguồn nhiên liệu mang sức sống cho con người và vạn vật trong vũ trụ. Hình tượng mưa được Nguyễn Trãi nhắc đến trong các bài: “Tự thán XXV”, “Ngôn chí XVI”, “Bến đò xuân đầu trại”, “Cuối xuân tức cảnh”,… Một thế giới tự nhiên phong phú, đầy màu sắc được vẽ ra dưới nét bút thần kì của thi nhân. Thiên nhiên đối với Nguyễn Trãi là tài sản tinh thần làm thỏa mãn thế giới tâm hồn con người. Đó là nơi mà mây, gió, trăng, hoa, đặc biệt là mưa…trở thành những người bạn thân thiết, luôn gắn bó và chia sẻ trong thú tiêu khiển cũng như lao động trong “Tự thán XXV”. Đó là bức tranh thiên nhiên nhàn nhã, yên bình trong cơn mưa xuân trong “Bến đò xuân đầu trại”:


“Cỏ xanh như khói bến xuân tươi,
Lại có mưa xuân nước vỗ trời.
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách,
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”.
(Bản dịch thơ của Khương Hữu Dụng)


Một bức tranh nhiên thiên gợi cảm và thanh khiết trong “Ngôn chí XVI”:


Mưa thu tưới ba đường cúc;
Gió xuân đưa một lảnh lan.


Hình tượng mưa trong thơ Nguyễn Trãi cho thấy được vẻ đẹp thơ mộng, đầy sức sống của tự nhiên và vạn vật.


Nguyễn Khuyến là một nhà thơ của nông thôn. Ông viết về nông thôn bằng tất cả tinh thần thân thuộc quyến luyến. Nguyễn Khuyến tạo dựng hình tượng mưa một cách đặc sắc. Trong thơ Nguyễn Khuyến, hình tượng mưa cũng là biểu tượng của niềm vui, là biểu tượng của sự thanh sạch, tạo sự nhuần mát cho tạo vật…được thể hiện trong tựa đề các bài: “Ngày hè hạn lâu, mừng gặp mưa”, “Ngày hè vừa tạnh mưa”, “Ngày xuân dạy các con”, “Mùa xuân bị ốm”, “Ngày xuân”, “Năm mất mùa”, “Mừng mưa”,… Cơn mưa như thỏa mãn bao khát khao, chờ đợi của tạo vật trong “Ngày hè hạn lâu, mừng gặp mưa, làm thơ”… Không chỉ có lợi cho thiên nhiên mà mưa còn có tác dụng làm thuyên giảm bệnh tình của con người ở “Mùa xuân bị ốm”. Trong thơ ca Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, mưa là hình tượng được tạo dựng một cách đặc sắc. Mưa không chỉ tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm lung linh, huyền ảo mà còn góp phần thể hiện bức tranh quê vốn đã phong phú thêm sinh động. Bên cạnh đó, bức tranh tâm trạng của các thi nhân cũng được hé mở qua chất xúc tác là hình tượng mưa. Cùng với các hình tượng thiên nhiên khác, mưa trở thành một yếu tố quan trọng trong thơ ca của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến.


Mưa trong thơ ca 1930-1945
Trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945, hình tượng mưa cũng được sử dụng rộng rãi. Hình tượng mưa tô điểm cho bức tranh quê thêm sinh động, phong phú. Nó vừa làm cho thiên nhiên rực rỡ vừa là một yếu tố tạo cho thiên nhiên bùng lên sự dữ dội, ác liệt vốn có. Đặc biệt, hình tượng mưa trong bức tranh sinh hoạt của con người cũng khá độc đáo.


Mưa tô điểm cho bức tranh nhiên nhiên thêm phong phú
Bằng sức quan sát tinh tế, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ đã vẽ lại bức tranh về làng quê đẹp và gợi cảm. Nguyên liệu của bức họa làng quê ấy là những nếp nhà tranh, dòng sông, con thuyền, cỏ, cây, hoa, lá… và đặc biệt là mưa. Đây là những nguyên liệu từ làng quê tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng hữu tình. Bức tranh thủy mặc được tạo ra với những nét bút uyển chuyển, mềm mại của “họa sĩ” Anh Thơ. Bằng lối nhân hóa, Anh Thơ đã tạo cho thiên nhiên một trạng thái tĩnh lặng vô biên trong “Chiều xuân”, “Bến đò ngày mưa”. Con đò thì “biếng lười”, quán tranh cũng “đứng im lìm”, những tính từ mang sắc thái âm tính “im lìm, vắng lặng, êm,…” cộng với hình ảnh “mưa đổ bụi” – những hạt mưa nhỏ li ti, bay thoáng qua rồi mất hút vào không trung… tất cả đã chất vào lòng người nỗi đìu hiu, quạnh vắng trước không gian. Quan sát cơn mưa giữa ngày, mưa trong đêm, Anh Thơ còn quan sát tỉ mỉ bức tranh tuyệt đẹp của làng quê vào những ngày có mưa trong “Chiều ba mươi tết”:


Trời lún phún mưa xuân đường các ngõ
Lầm những bùn và đầy những người đi.
Trong vườn đào đã nhiều bông nở đỏ
Và đã nhiều nêu dựng khánh khua thi.
(Chiều ba mươi tết)


Hình tượng mưa không chỉ dệt nên những bức thảm thiên nhiên đẹp đẽ mà còn tạo nên những biến đỗi dữ dội trong thiên nhiên. Mưa làm cho cuộc sống sinh hoạt con người thêm tất bật. Trần Huyền Trân đã quan sát thấy bao nỗi vất vả trước “Mưa đêm lều vó”:


Mưa lũa ao bèo mưa trắng đêm
Cây bờ ngơ ngác nước đang lên
Lều tôi kiến đã dời lên mái
Bà lão chài lo chửa có thuyền


Vì cơn mưa dài dằng dặc - “mưa trắng đêm” đã tạo nên nỗi vất vả, lo âu cho con người và cả loài vật. Loài vật bé nhỏ cũng có cuộc sống riêng và cũng hoảng sợ trước mưa gió: “kiến đã dời lên mái”. Không hoảng sợ trước thiên nhiên đến thế, nhưng mưa đã tạo nên nỗi lo toan của con người “bà lão chài lo chửa có thuyền”. Thật sự, chỉ có tâm hồn sâu sắc của tác giả mới có thể cảm nhận được những nỗi đau, những biến động của vạn vật dưới cơn mưa chính xác đến vậy.


Trong “Lụt” và “Đồng làng”, Đoàn Văn Cừ đã miêu tả tính chất dữ dội của cơn mưa. Mưa không chỉ mang lại sự giá lạnh mà còn cô lập con người. “Mưa tầm tã” - cơn mưa không chỉ to mà còn kéo dài. Chính cơn mưa vô tình ấy mà cuộc sống của biết bao con người bị đe dọa. Và khi trời mưa, nước dâng lên, không gian của con người như bị thu hẹp dần. Con người như nhỏ bé hơn, đơn côi hơn giữa thiên nhiên bao la, giữa “trời xanh” và “nước phẳng lỳ”. Những cơn mưa tháng sáu, tháng bảy đã thật sự trở thành hiểm họa cho con người:


Tháng bảy trời mưa ngập bốn bề
Sóng đồng khuya đập các bờ tre
Sáng ra người đứng trên đường cái
Chỉ thấy trời xanh nước phẳng lỳ


Gió mưa tháng một lạnh tê người
Đất ruộng cày lên xếp luống phơi 
(Đồng làng)


Thơ lãng mạn không chỉ đi tìm cái đẹp của tự nhiên mà còn là cuộc đi tìm cái đẹp của sinh hoạt, của phong tục, của những nếp sống êm đềm, ngọt ngào hay tất bật, ngộ nghĩnh và đậm vị điềm nhiên. Hình tượng mưa cũng được lãng du vào công cuộc đi tìm cái đẹp ấy. Tâm hồn vốn lạc quan, cởi mở, những con người Việt Nam luôn biết tận hưởng niềm vui ngay trong sự gian khó, trắc trở. Bên cạnh sự lo âu trước những cơn mưa thì con người lại cảm thấy hạnh phúc trước những con mưa ấy. Đoàn Văn Cừ đã biết nắm bắt nhanh chóng trạng thái ấy và đưa vào thơ mình bằng những chi tiết thi vị trong bài “Người làng”:


Đàn ông đầu đội nón nồi rang
Đứng đón bừa thuê ở cổng làng
Mùa rét khăn nâu trùm kín cổ
Áo buồm che đón trận mưa sương.


Mưa là chất xúc tác cho thế giới nội tâm con người được hiện rõ
Thơ lãng mạn mở rộng thế giới tự nhiên và thế giới nội tâm con người. Cả thế giới tình cảm: hạnh phúc, là lo âu, cay đắng, sầu não, đau khổ vô biên…đặc biệt là trong tình yêu đều được thể hiện một cách đặc sắc  qua những vần thơ lãng mạn tuyệt vời. Và hình tượng mưa được sử dụng với tác dụng của một chất xúc tác để thế giới nội tâm con người càng hiện rõ hơn. Với Nguyễn Bính, mưa là nguyên nhân tạo nên sự éo le trong cuộc đời của “chị” trong “Lỡ bước sang ngang”. “Giời mưa” là nguyên nhân, là thảm họa cho bi kịch tâm hồn "chị”, vì “giời mưa” mà “chị ” phải lấy chồng:


Trời mưa ướt áo làm gì?
Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồng


Cơn mưa làm tăng thêm nỗi giá lạnh của cuộc “Chia ly” trong thơ Lưu Trọng Lư:


Những ngày mưa lạnh, gió lê thê
Ta muốn trần gian ngớt tiếng đi,
Ta muốn ngựa xe đừng rộn nữa,
Âm thầm trong những buổi chia ly.


Mưa ngàn” đã xóa đi mối liên hệ giữa “ta” và “bạn” của Hồ Dzếnh:


Tháng tư, nước lũ, mưa ngàn
Nước xuôi đem hết lá vàng gửi xuôi
Ðường về: sông ngập, cầu trôi
Lối sang quê bạn xa xôi quá chừng!


Trong tình yêu, dù tình đã thoáng qua hay đã sâu đậm đều có thể dở dang. Dù thời gian phai nhòa, cái còn xót lại trong mỗi chúng ta hẳn là những kỉ niệm. Khi mưa rơi, ta dễ dàng bắt gặp những kỉ niệm hơn.


Trước cơn mưa, Bàng Bá Lân hồi tưởng về tuổi ấu thì với “Tình trong mưa”:


Chiều ấy, mưa rào ở xóm Đông,
Cho người ủ dột đứng bên song.
Xa nhìn đắm đuối tìm trong gió...
Chỉ thấy màn mưa trắng ngập đồng.


Ai biết mưa rơi nói những gì?

Đường mưa in một gót chân tiên.

Từ ấy trên đường loang loáng mưa,
Tìm hoài, đâu thấy gót chân xưa.
Đường mưa bao gót chân mưa bước
Gợi mãi tình yêu buổi dại khờ!


Mỗi khổ thơ, hình ảnh mưa đều xuất hiện để làm chứng cho tình yêu “buổi dại khờ”.


Trong “mái nhà vang tiếng mưa”, đôi trai gái đã ngồi bên nhau rồi “mơ mộng” về hạnh phúc. Mưa như vỗ về trái tim đôi lứa. Và rồi khi tình yêu không đơm hoa kết trái, mưa trở thành một kỷ niệm thật đẹp. Hồ ZDếnh nhớ lại mối tình mơ mộng của mình cũng dưới “Mưa”. Mưa đánh thức nỗi nhớ nhung trong tâm hồn “tôi”, mưa và “Hiền áo trắng” cùng hiện lên trong kí ức:


Trời mưa rồi trời mưa
Sân nhà đầy bong bóng
Hai tôi ngồi mơ mộng
Đếm mãi vẫn đương thừa.

Bong bóng tàn theo mộng
Nhân duyên dần hết mùa
- Ai như Hiền áo trắng
Loáng thoáng qua hơi mưa?


 Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm với cuộc sống. Nhưng vì yêu cầu tuyệt đối nên không bao giờ đạt được, nhất là trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. “Cảm xúc” đã thể hiện tâm trạng của thi nhân trong giai đoạn này một cách chân thật nhất. Đó là nỗi buồn thương trước cơn mưa. Đó không chỉ là sự đau đớn, sầu tư, bơ vơ mà còn là sự bế tắc, hoang phế trong tâm hồn thi nhân trước xã hội đương thời:


Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ
Nghìn trái tim mang trong một trái tim
Để hiểu vào giọng suối với lời chim
Tiếng mưa khóc, lời reo tia nắng đọng.
(Cảm xúc)


Bích Khê cũng cùng tâm trạng nhớ thương “cố quốc” ấy. Thi sĩ nhận ra sự lạnh lẽo ở xung quanh mình trong “Cuối thu”, trong “Tiếng đàn mưa”. Và tiếng mưa của thi nhân là một tiếng lòng đang cất lên trước nỗi

đau từ hoàn cảnh của đất, của bản thân:


Mưa  hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.

Rơi hoa kết mưa còn rả rích
Càng mưa rơi cánh tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
(Tiếng đàn mưa)


Hình tượng mưa trong thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 có sự kế thừa từ hình tượng mưa trong thơ ca trung đại, vẫn sử dụng bút pháp chấm phá, dùng hình ảnh tượng trưng để gợi những bức tranh nhiên nhiên thơ mộng; trong đó, mưa vẫn là một yếu tố trong bức tranh đã được gợi ra đó. Tuy nhiên, trong việc thể hiện tình cảm cá nhân thì thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 lại sử dụng hình tượng mưa một cách triệt để hơn, đi sâu vào tất cả thế giới tâm hồn của con người đương đại.


Mưa trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám 1945
Thơ ca sau năm 1945 vô cùng phong phú và đa dạng, nó không những tái hiện lại cuộc chiến đang xảy ra, đã xảy ra mà còn đi sâu vào từng ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn con người. Đặc biệt, hình tượng mưa trong giai đoạn này cũng có sự thăng hoa trong thơ của các văn nghệ sĩ.


Mưa gắn liền với cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam
Ta sẽ bắt gặp hình tượng mưa hòa vào cuộc chiến đấu của dân tộc.  Trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình tượng mưa xuất hiện như một lực lượng tàn phá đi sức lực của con người. Qua “Đất nước”, ta thấy cảnh vất vả của các chiến sĩ trong lúc hành quân “ngày nắng đốt theo đêm mưa dội”. Những chiến sĩ của ta phải chịu sự khắc nghiệt bởi cái trái tính trái nết của tự nhiên: ngày thì cháy bỏng, đêm thì lạnh buốt vì “mưa dội”. Hình tượng mưa cũng xuất hiện cùng với những trận bom, pháo giật trên chiến trường trong “Lá cờ”.


Với Tế Hanh, mưa luôn gây trở ngại cho cuộc sống thường nhật và trong lúc chiến đấu. Trong “Pác Pó”, mưa như làm tăng thêm sự gian lao cho Bác – vốn là người đã chịu đựng sẵn biết bao vất vả:


Đây nơi Bác ngủ. Bác ơi, gian khổ quá!
Một miếng ván gập ghềnh trên tảng đá
Mưa dột dưới chân, gió lọt trên đầu
Tia nắng nào sưởi ấm hang sâu?


Không phải lúc nào hình tượng mưa cũng buồn. Hình tượng mưa cũng mang niềm vui, niềm hạnh phúc. Đó là niềm hạnh phúc dâng trào khi “Ngày về” đứng giữa quê hương nhưng những gông xiềng đã không còn mà chỉ còn tự do. Đó là niềm vui khi được sống giữa quê hương tự do, được chung sống với người mình yêu thương trong “Buổi chiều ấy”… Nguyễn Đình Thi đã cho ta thấy sự cuống quýt, hối hả nhưng cũng có cái gì đó rưng rưng trong nỗi sướng vui trước chiến thắng và sự vươn mình của dân tộc:


Tìm thấy nhau rồi không lạc nữa
Anh dắt tay em chạy giữa mưa
Quên những chông gai quên tất cả
Để lại sau lưng mọi bến bờ. 
(Buổi chiều ấy)


Mưa cụ thể hóa những cung bậc cảm xúc của con người
Xa nhà, xa người thân để lên đường chiến đấu, những kỉ niệm như trở thành những điều thiêng liêng nhất. Trong lúc hành quân, Quang Dũng đã gặp lại sự thiêng liêng ấy từ hình ảnh cơn mưa ở một bản làng. Quang Dũng mơ về một vùng đất mà mọi thứ như tang hoang và buồn man mác ("Một hàng cau phơ phất/Một hàng mây xa xôi /Trong mưa chiều hiu hắt/Buồn lắm Hồ Nam ơi!-Hồ Nam") . Vùng đất trong tâm thức Quang Dũng là vùng đất chết. Mọi thứ phai tàn, rệu rã. Cơn mưa tô điểm cho vùng đất ấu thêm thê lương, trở thành bức tranh “nghĩa địa”.


  Trong “Có một điều như thế”, Hữu Thỉnh cũng từng trong tâm trạng thương nhớ giống Quang Dũng. Nếu như nỗi nhớ của Quang Dũng dâng thành “lớp lớp mưa dài” thì nỗi nhớ của Hữu Thỉnh lại như “cơn mưa tích nước” trong “Tự thuật của người lính”. Và nếu Hữu Thỉnh trộn nỗi nhớ vào cơn mưa thì Thanh Tịnh lại trộn nỗi nhớ, nỗi chơi vơi vào lời nói trong “Đi từ giữa một mùa sen”.


Với Xuân Quỳnh, cảm thức về sự cô đơn thường được khơi dậy từ những cơn mưa, dự cảm sự chia cách luôn tồn tại trong tâm thức của thi sĩ (Và mây, mây khắp chốn lang thang/Chặn bốn phía những cỏ cây tội nghiệp/Cho cơn lốc dữ tợn về bẻ nát /Trái đất này sẽ nhận chìm trong mưa-Chuồn chuồn báo bão). Dự cảm về nỗi cô đơn cũng được gợi ra từ những cơn mưa trong “Anh”, “Tự hát”, “Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”…


Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong hoàn cảnh đời sống kháng chiến, hình tượng mưa hòa và niềm vui và nỗi buồn của con người trong tập thể; trong thời bình thì hình tượng mưa hòa vào những cảm xúc cá nhân. Những cảm xúc ấy có vui, có buồn, có cô đơn. Nhưng dù có cô đơn, buồn đến đâu cái tôi cá nhân cũng không bao giờ rơi vào sự bế tắc và tuyệt vọng.


N.V.H

Tin liên quan

1